Hợp tác xã Nông nghiệp Thọ Vinh: Biến phụ phẩm thành nguồn lợi trong nuôi cá lồng

Từ nguồn phụ phẩm của các cơ sở giết mổ gia cầm, hợp tác xã Nông nghiệp Thọ Vinh (phường Sơn Nam, tỉnh Hưng Yên) đã xây dựng thành công mô hình tận dụng làm thức ăn cho cá lồng, giúp giảm trên 60% chi phí thức ăn, nâng cao chất lượng thủy sản và góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn, bền vững.

Giữa bối cảnh giá thức ăn thủy sản liên tục tăng cao, nhiều cơ sở nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt với áp lực lớn về chi phí sản xuất; hợp tác xã Nông nghiệp Thọ Vinh đã tìm được hướng đi hiệu quả khi tận dụng nguồn phụ phẩm từ các cơ sở giết mổ gia cầm làm thức ăn cho cá; giải pháp này không chỉ giúp giảm đáng kể chi phí đầu vào mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng tuần hoàn, bền vững.

Hệ thống lồng nuôi thủy sản của HTX Nông nghiệp Thọ Vinh

 Là hợp tác xã đầu tiên đưa mô hình nuôi cá lồng vào sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trước đây, hợp tác xã Nông nghiệp Thọ Vinh đã có hơn 10 năm gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên sông. Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của thị trường, hợp tác xã không ngừng đổi mới phương thức sản xuất, từng bước xây dựng mô hình nuôi cá lồng hiệu quả và bền vững. Hiện nay, hợp tác xã có 10 thành viên, duy trì 30 lồng nuôi trên sông, nuôi chủ lực cá lăng, cá ngạnh và cá diêu hồng. Mỗi năm, hợp tác xã cung ứng ra thị trường khoảng 90 tấn thủy sản thương phẩm, trong đó cá lăng đạt khoảng 60 tấn, cá ngạnh khoảng 20 tấn và cá diêu hồng khoảng 10 tấn. Các sản phẩm thủy sản của hợp tác xã hiện được tiêu thụ tại Hưng Yên, Hà Nội và các tỉnh lân cận. Đặc biệt, các sản phẩm cá lăng và cá ngạnh thương phẩm được nhiều nhà hàng, cơ sở kinh doanh thực phẩm lựa chọn nhờ chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon và bảo đảm an toàn thực phẩm. Thu nhập bình quân của các thành viên đạt khoảng 200 triệu đồng/người/năm.

 Dù từng bước khẳng định được vị thế trên thị trường, hành trình phát triển của hợp tác xã không phải lúc nào cũng thuận lợi. Thách thức lớn nhất đến từ chi phí thức ăn – yếu tố chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá thành nuôi cá lồng. Trong nhiều năm, hợp tác xã sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp. Khi giá thức ăn liên tục tăng cao, hiệu quả sản xuất bị ảnh hưởng đáng kể, có thời điểm hợp tác xã thua lỗ gần 200 triệu đồng. Trước nguy cơ sản xuất kém hiệu quả kéo dài, Ban lãnh đạo hợp tác xã xác định phải tìm hướng đi mới để giảm chi phí nhưng vẫn bảo đảm tốc độ sinh trưởng của cá và chất lượng sản phẩm. Sau quá trình khảo sát thực tế, hợp tác xã quyết định tận dụng nguồn phụ phẩm từ các cơ sở giết mổ gia cầm trên địa bàn, chủ yếu là lòng gà, lòng vịt và một số phụ phẩm nội tạng khác để làm thức ăn cho cá. Để bảo đảm vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm, toàn bộ nguồn phụ phẩm trước khi đưa vào sử dụng đều được lựa chọn kỹ, sơ chế và luộc chín. Sau đó, thức ăn được phân loại và sử dụng theo khẩu phần phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá. Việc xử lý kỹ nguồn nguyên liệu không chỉ giúp bảo đảm giá trị dinh dưỡng mà còn hạn chế nguy cơ phát sinh mầm bệnh trong quá trình nuôi. Sau thời gian áp dụng, mô hình đã mang lại kết quả tích cực. Cá được nuôi bằng nguồn phụ phẩm đã qua xử lý vẫn đạt tốc độ sinh trưởng tương đương phương thức sử dụng thức ăn công nghiệp. Đặc biệt, chất lượng thịt cá được cải thiện rõ rệt, săn chắc hơn, thơm ngon hơn và được thị trường đánh giá cao. Đây cũng là yếu tố giúp sản phẩm của hợp tác xã nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm, việc chuyển đổi nguồn thức ăn còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Nếu trước đây chi phí thức ăn công nghiệp lên tới khoảng 280 triệu đồng mỗi tháng thì hiện nay chỉ còn khoảng 105 triệu đồng/tháng, giảm hơn 60%. Nhờ đó, hợp tác xã tiết kiệm được khoảng 175 triệu đồng mỗi tháng, tương đương trên 2 tỷ đồng mỗi năm. Nguồn kinh phí tiết kiệm được tiếp tục được tái đầu tư vào sản xuất, nâng cấp hệ thống lồng nuôi và cải thiện kỹ thuật chăm sóc thủy sản.

Cá ngạnh thương phẩm phát triển tốt nhờ phụ phẩm chăn nuôi

Ông Nguyễn Văn Quỳnh, Phó Giám đốc hợp tác xã Nông nghiệp Thọ Vinh cho biết: “Trước đây, chi phí thức ăn luôn là áp lực lớn đối với hợp tác xã. Có thời điểm giá thức ăn công nghiệp tăng cao khiến hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn, thậm chí thua lỗ gần 200 triệu đồng. Từ khi tận dụng nguồn phụ phẩm gia cầm đã qua sơ chế, luộc chín làm thức ăn cho cá, chi phí giảm đáng kể trong khi tốc độ sinh trưởng của cá vẫn được bảo đảm. Điều quan trọng hơn là chất lượng thịt cá săn chắc, thơm ngon hơn nên được thị trường đón nhận tích cực.”

Việc sử dụng phụ phẩm gia cầm làm thức ăn cho cá cũng đặt ra yêu cầu cao hơn trong công tác quản lý môi trường nuôi. Nhận thức rõ điều đó, hợp tác xã đã xây dựng quy trình kiểm soát chặt chẽ từ khâu xử lý nguyên liệu đến việc quản lý chất lượng nguồn nước. Các thành viên thường xuyên theo dõi, đo đạc các chỉ số môi trường như độ PH, hàm lượng oxy hòa tan và các chỉ tiêu kỹ thuật khác để đánh giá sức khỏe đàn cá, kịp thời xử lý những biến động bất lợi có thể xảy ra. Việc cho cá ăn được thực hiện đúng thời điểm, đúng khẩu phần nhằm hạn chế tối đa lượng thức ăn dư thừa phát sinh trong môi trường nước. Bên cạnh đó, nguồn phụ phẩm sau khi được sơ chế và luộc chín giúp cá hấp thụ tốt hơn, giảm lượng chất hữu cơ tồn dư trong nước. Hợp tác xã cũng thường xuyên sử dụng chế phẩm sinh học, vôi và khoáng chất để xử lý môi trường nuôi, góp phần duy trì chất lượng nguồn nước ổn định, giảm nguy cơ ô nhiễm và bảo đảm điều kiện sinh trưởng thuận lợi cho thủy sản

Từ những phụ phẩm tưởng chừng bỏ đi, Hợp tác xã đã tạo ra nguồn thức ăn hiệu quả cho thủy sản, giảm đáng kể chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạn chế tác động đến môi trường. Thành công của mô hình không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho các thành viên mà còn góp phần khẳng định vai trò của kinh tế tập thể trong đổi mới tư duy sản xuất nông nghiệp, hướng tới mục tiêu phát triển xanh và bền vững. Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang đẩy mạnh phát triển kinh tế tuần hoàn, cách làm của hợp tác xã Nông nghiệp Thọ Vinh là minh chứng rõ nét cho thấy sự sáng tạo từ thực tiễn sản xuất có thể tạo ra giá trị kinh tế, xã hội và môi trường; đây cũng là kinh nghiệm thực tiễn có giá trị để các hợp tác xã và hộ nuôi trồng thủy sản nghiên cứu, học tập và nhân rộng phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương./.

Tạ Phương

TIN TỨC MỚI

THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

VIDEO